Thánh Phêrô
| Sứ đồ Phêrô | |
|---|---|
Thánh Phêrô (thế kỷ thứ 6) | |
| Tòa | Vị giám mục Rôma đầu tiên và vị giám mục Antiôkia đầu tiên, theo truyền thống Công giáo và Kitô giáo Đông phương |
| Tựu nhiệm | k. AD 30[1] |
| Hết nhiệm | Trong khoảng thời gian từ năm 64 đến năm 68 sau Công nguyên[1] |
| Kế nhiệm | |
| Truyền chức | |
| Thụ phong | k. AD 30 bởi Chúa Giê-su |
| Tấn phong | k. AD 30 bởi Chúa Giê-su |
| Thông tin cá nhân | |
| Tên khai sinh | Shimon bar Yonah |
| Sinh | khoảng k. 1 BC Bethsaida, Tứ phân khu Herodes, Đế quốc La Mã |
| Mất | Trong khoảng thời gian từ năm 64 đến năm 68 sau Công nguyên Đồi Vatican, Roma, Ý, Đế quốc La Mã[3][4] |
| Cha mẹ | Jonah (hoặc Jona; John) |
| Nghề nghiệp | Ngư dân, giáo sĩ, Giám mục Rôma và Antiochia (truyền thống Công giáo và Kitô giáo Đông phương ) |
| Tuyên phong | |
| Lễ kính |
|
| Tôn kính | Tất cả các hệ phái Kitô giáo tôn kính các vị thánh |
| Thánh hiệu | Thánh Phêrô Tông đồ |
| Phong thánh | Tiền thân của Bộ Tuyên thánh |
| Biểu trưng | Chìa khóa Nước Trời, tử đạo, dây pallium, phẩm phục giáo hoàng, con gà trống, người bị đóng đinh ngược, mặc y phục của một Tông đồ, tay cầm sách hoặc cuộn giấy, Thánh giá Thánh Phêrô |
| Đền chính | Vương cung thánh đường Thánh Phêrô Nhà thờ Thánh Phêrô |
Thánh Phêrô hay Thánh Peter[note 1] (tên khai sinh: Simôn con ông Giôna k. 1 BC – AD 64/68),[1] hay còn được gọi là Tông đồ Phêrô (Peter the Apostle), Simôn Phêrô (Simon Peter),[note 2] hoặc Cephas (Kêpha), là một trong Mười hai Tông đồ của Chúa Giêsu và là một trong những nhà lãnh đạo đầu tiên của Giáo hội Kitô giáo sơ khai. Ông xuất hiện thường xuyên và nổi bật trong sách Phúc Âm thuộc Tân Ước, cũng như trong sách Công vụ Tông đồ. Theo truyền thống Công giáo và Chính thống giáo, Phêrô được coi là giám mục Rôma (hay giáo hoàng) đầu tiên, đồng thời cũng là giám mục Antiôkia đầu tiên. Theo truyền thống Kitô giáo, Phêrô đã chịu đóng đinh ngược đầu tại Rôma dưới thời Hoàng đế Nero.
Các giáo hội Kitô giáo cổ xưa tôn vinh Phêrô như một vị thánh quan trọng, đồng thời là người sáng lập Giáo hội tại Antioch và Giáo hội tại Rôma;[1] tuy nhiên, các giáo hội này lại có quan điểm khác biệt về thẩm quyền của những người kế vị ông. Theo giáo lý Công giáo, Chúa Giêsu đã hứa ban cho Phêrô một vị thế đặc biệt trong Giáo hội.[7] Trong Tân Ước, tên gọi "Simôn Phêrô" xuất hiện 19 lần. Ông là anh em của An-rê, và cả hai đều là ngư dân. Đặc biệt, phúc âm thánh Mác-cô được cho là chịu ảnh hưởng từ các bài giảng và lời kể của chính Phêrô – người đã trực tiếp chứng kiến các sự kiện. Ông cũng được nhắc đến với tên gọi Phêrô hoặc Kê-pha trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô và Thư gửi tín hữu Galát của Phaolô. Tân Ước còn bao gồm hai thư chung là Thư thứ nhất của Phêrô và Thư thứ hai của Phêrô; theo truyền thống, các thư này được cho là do ông viết, nhưng giới nghiên cứu hiện đại nhìn chung không công nhận ông là tác giả của cả hai văn bản này.[8]
Ngoài Tân Ước, một số tác phẩm ngụy thư sau đó đã được gán cho ông, đáng chú ý là Công vụ Phêrô, Tin Mừng theo Phêrô, Lời giảng của Phêrô, Khải huyền của Phêrô và Sự phán xét của Phêrô; tuy nhiên, các học giả cho rằng những tác phẩm này là các văn bản được viết dưới tên giả.[9][10][11]
Mặc dù Tân Ước không nêu rõ Phêrô là vị giám mục đầu tiên của Rôma hay mô tả chi tiết hành trình của ông đến đó, nhưng các Giáo phụ và sử gia thời kỳ đầu – bao gồm Irênê, Tertullian, Hegesippus, Clêmentê thành Alexandria, Lactantius, và Eusebius – đều xác nhận rằng Phêrô đã dành những năm cuối đời tại Rôma; tại đây, cùng với Phaolô, ông đã đặt nền móng cho Giáo hội Rôma và trao chức giám mục cho Giáo hoàng Linô.[12] Các tư liệu này cũng khẳng định rằng Phêrô đã chịu tử đạo tại Rôma, theo truyền thống là trên đồi Vatican dưới thời trị vì của hoàng đế Nêrô. Caius, một tác giả sống vào cuối thế kỷ thứ hai, còn làm chứng rằng các di tích liên quan đến Phêrô nằm tại Vatican.[13][14]
Từ nguyên về các tên gọi của Thánh Phêrô
[sửa | sửa mã nguồn]

Tân Ước cho biết tên gọi ban đầu của Phêrô là Simôn. (/ˈsaɪmən/ ⓘ; Σίμων, Simōn trong tiếng Hi lạp cổ). Chỉ trong hai đoạn văn,[15] tên của ông lại được viết là "Simeon" (tiếng Hy Lạp: Συμεών). Sự khác biệt này có thể phản ánh "một tập tục phổ biến của người Do Thái thời bấy giờ: đặt tên cho con trai theo tên của một vị tổ phụ hoặc nhân vật nổi tiếng trong Cựu Ước [cụ thể là Simeon], đồng thời đi kèm với một cái tên Hy Lạp/La Mã có âm tương tự [trong trường hợp này là Simon]".[16]
Sau đó, ông được Chúa Giêsu đặt cho cái tên Cephas (Kêpha, (/ˈsiːfəs/[17]), bắt nguồn từ từ כֵּיפָא, Kepha, 'rock/stone' trong tiếng Tiếng Aram, có nghĩa là "tảng đá" hoặc "đá". Trong các bản dịch Kinh Thánh từ nguyên bản tiếng Hy Lạp cổ điển, tên gọi Cephas được giữ nguyên ở chín chỗ trong Tân Ước;[18] trong khi đó, ở phần lớn các lần nhắc đến còn lại (156 lần trong Tân Ước), ông được gọi là Πέτρος, Petros, một dạng danh từ giống đực được biến đổi từ gốc từ petra (πέτρα, nghĩa là "tảng đá") để dùng làm tên riêng cho nam giới.[19][20]
Ý nghĩa chính xác của từ ngữ tiếng Aram này vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi; một số người cho rằng nghĩa thông thường của nó là "tảng đá" hoặc "vách đá", trong khi những người khác lại cho rằng nó có nghĩa là "hòn đá" — đặc biệt là trong cách Chúa Giê-su dùng từ này để gọi Simôn, tựa như một "viên ngọc quý". Tuy nhiên, đa số các học giả đều đồng thuận rằng, khi được dùng như một tên riêng, từ này ám chỉ một tính cách cứng rắn hoặc kiên cường.[21] Cả hai nghĩa, "đá" (viên ngọc hoặc đá đã qua đẽo gọt) và "tảng đá", đều được ghi nhận trong các từ điển tiếng Aramaic[22] và tiếng Syriac.[23]
Nhà thần học Công giáo Rudolf Pesch lập luận rằng từ Aramaic có nghĩa là "đá quý", dùng để chỉ một người nổi bật.[24][25] Tuy nhiên, điều này không thể được chứng minh một cách thỏa đáng từ tiếng Aram, vì việc sử dụng căn từ kp trong tiếng Aram làm tên riêng vẫn chưa được xác thực, và hầu như không có ví dụ nào cho thấy từ này được dùng với nghĩa là "đá quý".[26]
Tên gọi kết hợp Σίμων Πέτρος (Símon Pétros, Simôn Phêrô) xuất hiện 19 lần trong Tân Ước. Trong một số tài liệu tiếng Syriac, ông được gọi là Simôn Kêpha (Simon Cephas).[27]
Tiểu sử
[sửa | sửa mã nguồn]
Nguồn tư liệu
[sửa | sửa mã nguồn]Các nguồn tư liệu được sử dụng để tái dựng cuộc đời của Phêrô có thể được chia thành ba nhóm:
- Các văn bản trong Tân Ước, chẳng hạn như các Thư của Phaolô (trong đó Tông đồ Phaolô gọi ông là "Kêpha" và "Phêrô"), các Thư của Phêrô (theo truyền thống được cho là do ông viết, nhưng quyền tác giả vẫn còn là vấn đề gây tranh cãi), các Tin Mừng quy điển và sách Công vụ Tông đồ;
- các tác phẩm ngụy thư Tân Ước được cho là của ông, chẳng hạn như Tin Mừng theo Phêrô, Bài giảng của Phêrô, Công vụ Phêrô, Công vụ Phêrô và Anrê, Công vụ Phêrô và Mười hai Tông đồ, Công vụ Phêrô và Phaolô, Thư của Phêrô gửi Philípphê, Thư của Phêrô gửi Giacôbê Công chính, Khải huyền của Phêrô và Khải huyền của Phêrô (bản tiếng Copt). Các học giả đều đồng thuận rằng đây là những tác phẩm ngụy danh xuất hiện muộn và có giá trị lịch sử không đáng kể, mặc dù chúng có thể chứa đựng một vài yếu tố lịch sử xác thực;
- các tác phẩm của các Giáo phụ Tông truyền và các Giáo phụ, chẳng hạn như Papias thành Hierapolis, Giáo hoàng Clêmentê I, Pôlycarpô, Ignatius thành Antioch và Irênê.
Trong Tân Ước, ông là một trong những người đầu tiên[note 3] trong số các môn đệ được kêu gọi trong thời gian Chúa Giêsu thi hành sứ vụ. Phêrô trở thành vị tông đồ đầu tiên được Chúa Giêsu phong chức trong Giáo hội sơ khai.[32]
Gia đình
[sửa | sửa mã nguồn]Phêrô là một ngư dân Do Thái sinh ra ở Bethsaida,[1] một thị trấn nhỏ thuộc miền Galilea, trên bờ hồ Tiberias, xứ Palestine. Ông tên là Simon, con trai của một người tên là Giôna hoặc John.[note 4] Trong Phúc Âm Nhất Lãm, ông đã có một người mẹ vợ được đề cập đến trong Kinh Thánh và được Chúa Giêsu chữa lành một cách kỳ diệu tại nhà của họ ở Caphácnaum.[36][37][38] Theo Clêmentê thành Alexandria[39] thì Phêrô đã lập gia đình,[40] có những đứa con, vợ của ông đã chịu đau khổ và chịu tử vì đạo.
Trong các sách Phúc Âm Nhất Lãm, Phêrô (lúc đó còn tên là Simôn) là một ngư dân, cùng với em trai là Anrê và các con của ông Zêbêđê, tức Giacôbê và Gioan. Sách Phúc Âm Gioan cũng mô tả cảnh Phêrô đi đánh cá, ngay cả sau khi Chúa Giêsu phục sinh, thông qua câu chuyện về mẻ lưới bắt được 153 con cá. Trong sách Tin Mừng theo Thánh Mátthêu và Thánh Marcô, Chúa Giêsu đã gọi Simôn cùng em trai là Anrê trở thành những "người chài lưới người".[41][42]

Trong Lời tuyên xưng của Phêrô, ông khẳng định Chúa Giêsu chính là Đấng Kitô (Đấng Mêsia của người Do Thái), như được thuật lại trong ba sách Tin Mừng nhất lãm.[43][44][45] Chính tại khu vực Caesarea Philippi, ông đã được Chúa Giêsu đặt cho tên là Kêpha (tiếng Aram: Kepha), hay Phêrô (tiếng Hy Lạp: Petros).
Trong sách Phúc Âm Luca, Simon Phêrô là chủ chiếc thuyền mà Chúa Giêsu sử dụng để giảng dạy cho đám đông đang chen lấn quanh Ngài bên bờ hồ Gennesaret.[46] Sau đó, Chúa Giêsu khiến Simon cùng các bạn đồng hành là Giacôbê và Gioan (không thấy nhắc đến Anrê) kinh ngạc khi bảo họ thả lưới, nhờ đó họ bắt được một mẻ cá rất lớn. Ngay sau sự kiện này, họ đã đi theo Ngài.[47]
Phúc Âm Gioan thuật lại một câu chuyện tương tự về "Những môn đệ đầu tiên".[48] Trong Tin Mừng Gioan, độc giả được biết rằng có hai môn đệ của Gioan Tẩy Giả (Anrê và một môn đệ không nêu tên) đã nghe Gioan Tẩy Giả giới thiệu Chúa Giêsu là "Chiên Thiên Chúa", rồi họ đi theo Người. Sau đó, Anrê tìm gặp anh mình là Simon và nói: "Chúng tôi đã gặp Đấng Mêsia", rồi đưa Simon đến với Chúa Giêsu; Chúa Giêsu liền đặt tên cho ông là "Kêpha".[34]
Ba trong số bốn sách Phúc Âm, Mátthêu, Máccô và Gioan, thuật lại câu chuyện Chúa Giê-su đi trên mặt nước. Riêng sách Mátthêu còn mô tả việc Phêrô cũng bước đi trên mặt nước trong chốc lát, nhưng rồi bắt đầu chìm xuống khi đức tin của ông trở nên lung lay.[49]
Vào đầu Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ. Phêrô ban đầu từ chối để Chúa Giê-su rửa chân, nhưng khi Chúa Giêsu nói với ông: "Nếu ta không rửa cho con, thì con chẳng có phần gì với ta", Phêrô trả lời: "Lạy Chúa, không chỉ chân con, mà cả tay và đầu con nữa".[50] Nghi thức rửa chân thường được thực hiện lại trong buổi cử hành phụng vụ vào Thứ Năm Tuần Thánh tại một số hệ phái trong Kitô giáo.

Cả ba sách Tin Mừng nhất lãm đều đề cập rằng, khi Chúa Giêsu bị bắt, một trong những người đi cùng Ngài đã cắt đứt tai của một đầy tớ thuộc vị Thượng tế Israel.[51][52][53] Phúc âm Gioan cũng thuật lại sự kiện này, trong đó nêu rõ Phêrô là người đã vung gươm, còn Malchus là người bị thương.[54] Phúc âm Luca bổ sung thêm rằng Chúa Giêsu đã chạm vào tai người đầy tớ đó và thực hiện phép lạ chữa lành cho ông ta.[55] Việc chữa lành tai cho người đầy tớ này là phép lạ cuối cùng trong số 37 phép lạ của Chúa Giêsu được ghi lại trong Kinh Thánh.
Simon Phêrô, cùng với Gioan, đã hai lần bị đưa ra xét xử trước Hội đồng Do Thái (Sanhedrin) và ông đã trực tiếp chống lại họ.[56][57] Phêrô đã thực hiện một chuyến hành trình truyền giáo đến Lydda, Joppa và Caesarea.[58] Tại Joppa, Phêrô đã nhận được một thị kiến từ Thiên Chúa, cho phép ăn những loài vật trước đây vốn bị coi là không thanh sạch; điều này đã dẫn dắt các tín hữu thời kỳ đầu đi đến quyết định rao giảng Tin Mừng cho những người ngoại bang.[59] Simon Phêrô đã áp dụng thông điệp từ thị kiến về các loài vật thanh sạch ấy vào trường hợp của những người ngoại bang; sau cuộc gặp gỡ với Cornelius, một viên đại đội trưởng, ông khẳng định rằng "Thiên Chúa không thiên vị ai cả".
Theo sách Công vụ Tông đồ, Phêrô và Gioan đã được cử từ Giêrusalem đến Samaria.[60] Phêrô (hay Kêpha) được nhắc đến ngắn gọn trong chương mở đầu của một trong các thư của Phaolô, đó là Thư gửi tín hữu Galát; văn bản này đề cập đến một chuyến đi của Tông đồ Phaolô đến Giêrusalem, nơi ông gặp gỡ Phêrô.[61] Phêrô lại xuất hiện trong thư gửi tín hữu Galát, mười bốn năm sau đó, khi Phaolô (lúc này đi cùng với Barnaba và Títô) trở lại Giêrusalem.[62] Khi Phêrô đến Antiôkia, Phaolô đã phản đối ông ngay trước mặt "vì ông [Phêrô] đã hành động sai trái".[63][note 5]

Công vụ các Sứ đồ 12 thuật lại việc Phêrô, lúc bấy giờ đang ở Giêrusalem, đã bị Herod Agrippa (trị vì từ năm 42–44 SCN) bắt giam, nhưng sau đó được thiên sứ giải thoát. Sau khi được giải thoát, Phêrô rời Giêrusalem để đi đến "một nơi khác".[64] Các tài liệu hiện còn lưu giữ không cung cấp thêm thông tin liền mạch nào về các hoạt động tiếp theo của Phêrô, mặc dù vẫn có những ghi chép ngắn gọn về một vài sự kiện riêng lẻ trong giai đoạn sau của cuộc đời ông.[1]
Vợ của Phêrô
[sửa | sửa mã nguồn]Các sách Tin Mừng Nhất Lãm đề cập rằng Phêrô có một người mẹ vợ vào thời điểm ông đi theo Chúa Giêsu, và Chúa Giêsu đã chữa lành cho bà.[65] Tuy nhiên, các sách Tin Mừng không cung cấp thông tin gì về vợ của ông. Clêmentê thành Alexandria cho rằng vợ của Phêrô đã bị chính quyền La Mã hành quyết vì đức tin, nhưng ông không nêu rõ thời điểm hay địa điểm cụ thể.[66] Một quan điểm khác cho rằng vợ của Phêrô đã qua đời trước khi ông gặp Chúa Giêsu, nghĩa là ông đã trở thành người góa vợ.[67]
Vị lãnh đạo đầu tiên của Giáo hội sơ khai
[sửa | sửa mã nguồn]Các sách Phúc Âm và sách Công vụ Tông đồ mô tả Phêrô là vị tông đồ nổi bật nhất, mặc dù ông đã chối Chúa Giêsu ba lần trong các sự kiện liên quan đến cuộc đóng đinh. Theo truyền thống Kitô giáo, Phêrô là môn đệ đầu tiên được Chúa Giêsu hiện ra, qua đó khỏa lấp hành động chối Chúa trước đó của ông và khôi phục vị thế của ông. Phêrô được coi là vị lãnh đạo đầu tiên của Giáo hội sơ khai,[68][69] mặc dù vai trò lãnh đạo này về sau đã sớm được thay thế bởi James the Just, người được gọi là "anh em của Chúa".[70][71] Vì Phêrô là người đầu tiên được Chúa Giêsu hiện ra, nên vai trò lãnh đạo của ông trở thành nền tảng cho sự kế thừa tông đồ và quyền bính thể chế của giáo hội chính thống — vốn được xem là những người kế thừa Phêrô,[72] đồng thời ông cũng được mô tả là "tảng đá" làm nền tảng cho Giáo hội.[68]
Vị trí trong nhóm các tông đồ
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong các sách Tin Mừng[73] cũng như trong sách Công vụ Tông đồ,[74] tên của Phêrô luôn được liệt kê đầu tiên trong nhóm Mười hai Tông đồ. Cùng với Giacôbê Tiền và Gioan, ông tạo thành một nhóm ba người giữ vai trò đặc biệt trong số Mười hai Tông đồ. Chúa Giêsu đã cho phép ba vị này là những tông đồ duy nhất được chứng kiến ba sự kiện quan trọng trong thời gian Người thi hành sứ vụ công khai: việc Chúa Giêsu làm cho con gái ông Giairô sống lại,[75] Sự kiện Chúa Giêsu biến hình,[76] và Cơn hấp hối trong vườn Gethsemani.[77] Phêrô thường xuyên tuyên xưng đức tin của mình rằng Chúa Giêsu chính là Đấng Mêsia.
Trong các sách Phúc Âm, Phêrô thường được mô tả là người phát ngôn cho tất cả các Tông đồ.[78] John Vidmar, một học giả Công giáo, viết: "Các học giả Công giáo đồng thuận rằng Phêrô sở hữu một thẩm quyền vượt trên các Tông đồ khác. Ông đóng vai trò là người phát ngôn cho nhóm trong nhiều sự kiện, chủ trì việc bầu chọn Matti-a, và ý kiến của ông trong cuộc tranh luận về việc đón nhận người ngoại giáo vào đạo là yếu tố mang tính quyết định, v.v."[79]
Tác giả sách Công vụ Tông đồ khắc họa Phêrô như nhân vật trung tâm trong cộng đồng Kitô hữu sơ khai.[note 6]
Việc Phêrô chối Chúa Giêsu
[sửa | sửa mã nguồn]
Cả bốn sách Tin Mừng chính thống đều thuật lại rằng, trong Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã báo trước việc Phêrô sẽ chối Ngài ba lần trước khi gà gáy (trong Tin Mừng theo Thánh Máccô là "trước khi gà gáy hai lần"). Ba sách Tin Mừng Nhất Lãm và Tin Mừng theo Thánh Gioan mô tả ba lần chối đó như sau:
- Lần chối thứ nhất: Một nữ tì của vị thượng tế nhận ra Simon Phêrô và nói rằng ông từng ở cùng với Chúa Giêsu. Theo Tin Mừng theo Thánh Máccô (tuy không có trong tất cả các bản chép tay), "gà đã gáy". Chỉ có Tin Mừng theo Thánh Luca và Thánh Gioan nhắc đến một đống lửa mà Phêrô đang ngồi hoặc đứng sưởi ấm cùng với những người khác: theo Thánh Luca, Phêrô đang "ngồi"; còn theo Thánh Gioan, ông đang "đứng".
- Một lần chối khác diễn ra khi Simon Phêrô đi ra phía cổng, tránh xa ánh lửa. Tại đây, một người hầu gái (theo sách Mác) – hoặc một người hầu gái khác (theo sách Mátthêu), hay một người đàn ông (theo sách Luca và Giăng; đối với sách Giăng, đây là lần chối thứ ba) – đã nói với những người xung quanh rằng ông là môn đệ của Chúa Giêsu. Theo sách Giăng, "gà đã gáy". Tin Mừng theo thánh Giăng ghi lại lần chối thứ hai khi Phêrô vẫn còn đang sưởi ấm bên đống lửa, và lần chối thứ ba xảy ra khi có người khẳng định đã nhìn thấy ông trong vườn Gếtsêmani vào thời điểm Chúa Giêsu bị bắt;
- Một lần chối khác xảy ra khi giọng nói mang âm hưởng vùng Galilê của Phêrô bị coi là bằng chứng cho thấy ông thực sự là môn đệ của Chúa Giêsu. Theo các sách Mátthêu, Mác và Luca, "gà đã gáy". Sách Mátthêu bổ sung rằng chính giọng nói đặc trưng đã tiết lộ ông là người đến từ vùng Galilê. Sách Luca có chi tiết khác biệt đôi chút: thay vì một đám đông cáo buộc Simon Phêrô, thì đó là một cá nhân khác. Sách Giăng không đề cập đến giọng nói vùng Galilê.

Trong Phúc âm Luca có ghi lại việc Đấng Christ nói với Phêrô rằng: "Simon, Simon, nầy, Satan đã đòi sàng sảy các ngươi như lúa mì; nhưng Ta đã cầu nguyện cho con, để đức tin con không bị mất đi; và khi con đã quay trở lại, hãy củng cố các anh em mình". Trong một phân cảnh gợi nhớ lại sự kiện này[85] ở phần kết của Phúc âm Giăng, Phêrô đã ba lần khẳng định rằng ông yêu mến Chúa Giêsu.
Những lần hiện ra sau khi phục sinh
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong Thư thứ nhất gửi tín hữu Côrintô của Phaolô[86] có liệt kê các lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi sống lại, trong đó lần đầu tiên là hiện ra với Phêrô.[87] Tại đây, dường như Phaolô đang dựa theo một truyền thống cổ xưa cho rằng Phêrô là người đầu tiên nhìn thấy Đấng Kitô phục sinh,[32] một truyền thống mà dường như đã không còn tồn tại vào thời điểm các sách Tin Mừng được viết ra.[88]
Trong sách Tin Mừng theo thánh Gioan, Phêrô là người đầu tiên bước vào ngôi mộ trống, mặc dù trước đó những người phụ nữ và môn đệ được Chúa yêu quý đã nhìn thấy ngôi mộ này.[89] Theo tường thuật trong sách Tin Mừng theo thánh Luca, các tông đồ đã không tin vào lời kể của những người phụ nữ về ngôi mộ trống; chỉ có Phêrô là người đã chạy đến tận nơi để kiểm chứng. Sau khi nhìn thấy các tấm vải liệm, ông trở về nhà mà dường như không hề báo lại cho các môn đệ khác biết.[90]
Trong chương cuối của Phúc Âm Gioan, vào một trong những lần Chúa Giêsu hiện ra sau khi phục sinh, Phêrô đã ba lần khẳng định tình yêu của mình dành cho Chúa Giêsu – hành động này tương ứng với ba lần ông từng chối Chúa trước đó – và Chúa Giêsu đã tái xác nhận vị thế của Phêrô. Nhà thờ Tôn vinh Quyền tối thượng của Thánh Phêrô, tọa lạc bên Biển Galilê, được coi là địa điểm truyền thống nơi Chúa Giêsu Kitô đã hiện ra với các môn đệ sau khi phục sinh; theo truyền thống Công giáo, đây cũng là nơi Ngài thiết lập thẩm quyền tối thượng của Phêrô đối với Giáo hội Kitô giáo.
Người lãnh đạo Giáo hội sơ khai
[sửa | sửa mã nguồn]
Phêrô, cùng với Giacôbê Công chính và Gioan Tông đồ, được coi là ba "trụ cột của Giáo hội".[91] Được củng cố thẩm quyền nhờ sự hiện diện của Chúa Giêsu, Phêrô đã đảm nhận vai trò lãnh đạo nhóm các môn đệ thời kỳ đầu, hình thành nên cộng đoàn tại Jerusalem mà Phaolô từng nhắc đến.[68][69] Chẳng bao lâu sau, vai trò lãnh đạo của ông đã bị lu mờ bởi Giacôbê Công chính, "người anh em của Chúa".[70][71] Theo Lüdemann, điều này là do các cuộc thảo luận về sự nghiêm ngặt trong việc tuân thủ Luật Do Thái, khi phe bảo thủ hơn của Giacôbê Công chính [92] đã chiếm ưu thế so với lập trường cởi mở hơn của Phêrô, người chẳng bao lâu sau đó đã mất đi tầm ảnh hưởng.[71][note 7] Theo nhà sử học thuộc truyền thống Giám lý James D. G. Dunn, đây không phải là hành vi "chiếm đoạt quyền lực", mà là hệ quả từ việc Phêrô tham gia vào các hoạt động truyền giáo.[94] Nhà sử học Giáo hội sơ khai Eusebius (k. 325) đã ghi lại lời của Clement thành Alexandria (k. 190) như sau:
Người ta kể rằng sau khi Đấng Cứu Độ chúng ta lên trời, Phêrô, Giacôbê (Giacôbê Tiền) và Gioan — dù chính họ là những người được Chúa chúng ta ưu ái hơn cả — đã không tìm kiếm vinh dự cho bản thân, mà thay vào đó, họ đã chọn Giacôbê Công chính làm giám mục tại Jerusalem.[95]
Dunn cho rằng Phêrô đóng vai trò là một "nhân vật cầu nối" giữa các quan điểm đối lập của Phaolô và Giacôbê Công chính:
Trên thực tế, Phêrô có lẽ chính là "nhân vật cầu nối" (một pontifex maximus – vị bắc cầu vĩ đại!) – người đã góp công lớn hơn bất kỳ ai khác trong việc duy trì sự gắn kết giữa những khuynh hướng đa dạng của Kitô giáo thế kỷ thứ nhất. Giacôbê (anh/em trai của Chúa Giêsu) và Phaolô – hai nhân vật lãnh đạo nổi bật khác của Kitô giáo thế kỷ thứ nhất – lại gắn bó quá chặt chẽ với "phiên bản" Kitô giáo riêng của mình; ít nhất là trong nhãn quan của những tín hữu đứng ở hai thái cực đối lập trong phổ quan điểm này.
Phaolô khẳng định rằng Phêrô được giao trọng trách đặc biệt là sứ đồ cho người Do Thái, cũng giống như chính Phaolô là sứ đồ cho các dân ngoại. Một số người lập luận rằng Giacôbê Công chính từng là giám mục tại Giêrusalem, trong khi Phêrô là giám mục tại Rôma; họ cho rằng vị thế này đôi khi mang lại cho Giacôbê đặc quyền trong một số (nhưng không phải tất cả) tình huống.
Đoạn hội thoại về "đá"
[sửa | sửa mã nguồn]
Trong một cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và các môn đệ (Matthew 16:13–19), Chúa Giê-su hỏi: "Người ta nói Con Người là ai?" Các môn đệ đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau. Khi Ngài hỏi: "Còn các con, các con nói Ta là ai?", Simon Phêrô đáp: "Thầy là Đấng Mêsia, Con của Đức Chúa Trời hằng sống". Chúa Giêsu liền phán rằng:
Phước cho con, Simôn, con của Giôna, vì không phải thịt và máu bày tỏ điều này cho con, mà là Cha Ta ở trên trời. Ta lại bảo con rằng: Con là Cephas (Peter) (Petros), và trên tảng đá (petra) này, Ta sẽ xây dựng hội thánh của Ta; các cửa âm phủ sẽ không thắng được hội thánh ấy. Ta sẽ trao cho con chìa khóa của vương quốc thiên đàng; bất cứ điều gì con buộc dưới đất cũng sẽ được buộc ở trên trời, và bất cứ điều gì con mở dưới đất cũng sẽ được mở ở trên trời.
Trong một cuộc đối thoại giữa Chúa Giêsu và các môn đệ (Matthew 16:13–19), Chúa Giêsu hỏi: "Người ta nói Con Người là ai?". Các môn đệ đưa ra nhiều câu trả lời khác nhau. Khi Ngài hỏi: "Còn các con, các con nói Thầy là ai?", Simon Phêrô đáp: "Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống". Chúa Giêsu liền tuyên bố:
Này anh Simon con ông Giôna, anh thật là người có phúc, vì không phải phàm nhân mặc khải cho anh điều ấy, mà là Cha của Thầy, Đấng ngự trên trời. Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô (tức là Đá), trên tảng đá này, Thầy sẽ xây dựng Hội Thánh của Thầy, và quyền lực tử thần sẽ không thắng nổi. Thầy sẽ trao cho anh chìa khóa Nước Trời: dưới đất, anh cầm buộc điều gì, trên trời cũng sẽ cầm buộc điều ấy; dưới đất, anh tháo cởi điều gì, trên trời cũng sẽ tháo cởi điều ấy.
Một quan điểm phổ biến về Phêrô được đưa ra bởi linh mục Dòng Tên Daniel J. Harrington; ông cho rằng Phêrô là một biểu tượng về sự vững vàng mà ít ai ngờ tới. Mặc dù là một trong những môn đệ đầu tiên được gọi và là người phát ngôn cho cả nhóm, Phêrô cũng đồng thời là điển hình của người "kém tin". Trong Matthew 14, chính Phêrô đã được Chúa Giêsu nói cho nghe câu: "Người đâu mà kém tin vậy! Sao lại hoài nghi?", và sau đó, ông đã chối Chúa Giêsu ba lần. Như vậy, dưới ánh sáng của biến cố Phục sinh, Phêrô trở thành hình mẫu của một tội nhân được tha thứ.[96] Bên ngoài Giáo hội Công giáo, có nhiều ý kiến khác nhau về cách giải thích đoạn Kinh Thánh này, đặc biệt là liên quan đến thẩm quyền và trách nhiệm—nếu có—mà Chúa Giêsu đã trao cho Phêrô.[97]
Trong Giáo hội Chính thống giáo Đông phương, đoạn Kinh Thánh này không được hiểu là hàm ý một vị thế đặc biệt dành riêng cho cá nhân Phêrô, mà là vị thế của ông với tư cách là đại diện cho các Tông đồ. Từ được dùng để chỉ "tảng đá" (petra) xét về mặt ngữ pháp ám chỉ "một mảnh nhỏ tách ra từ một khối đá lớn",[98] chứ không phải là một tảng đá khổng lồ. Do đó, theo Thánh truyền của Chính thống giáo, những lời của Chúa Giêsu được hiểu là quy chiếu về đức tin của các Tông đồ.
Trước đó, Petros chưa từng được sử dụng như một tên riêng; tuy nhiên, trong thế giới nói tiếng Hy Lạp, tên gọi này đã trở nên phổ biến đối với các Kitô hữu sau khi truyền thống về vai trò nổi bật của Phêrô trong Giáo hội sơ khai được xác lập.
Trong 1 Côrintô 10:4, Sứ đồ Phaolô nói rằng tảng đá thiêng liêng (petra) chính là Đấng Christ:
Tất cả đều ăn cùng một thức ăn thiêng liêng và uống cùng một thức uống thiêng liêng; vì họ uống từ tảng đá thiêng liêng đi theo họ, và tảng đá ấy chính là Đấng Kitô(hē petra de ēn ho Christos).
Mối liên hệ giữa sách Mátthêu và sách Côrintô ở đây được ghi nhận trong tác phẩm Chú giải Tin Mừng Mátthêu của Giêrônimô [99] và bởi Augustine, "vị giáo phụ vĩ đại nhất trong các giáo phụ Latinh"[100]:
Chúng ta hãy nhớ lại lời trong Phúc Âm: "Trên tảng đá này, Ta sẽ xây dựng Hội Thánh Ta" (Mátthêu 16:18). Vì vậy, Hội Thánh—nơi mà Ngài đã định sẵn phải được xây dựng trên một tảng đá—đang cất tiếng kêu từ tận cùng trái đất. Nhưng để Hội Thánh có thể được xây dựng trên tảng đá đó, thì ai đã trở thành tảng đá ấy? Hãy nghe Phaolô nói: "Tảng đá đó chính là Đấng Kitô". Vậy nên, chúng ta đã được xây dựng trên Ngài.[101]
Tông truyền
[sửa | sửa mã nguồn]Các nguồn tài liệu Công giáo và Chính thống giáo cho rằng sự lãnh đạo của Phêrô tạo nên nền tảng của sự kế thừa tông đồ và quyền lực thể chế của Chính thống giáo, với tư cách là những người thừa kế của Phêrô. Người Công giáo gọi ông là người đứng đầu các Tông đồ,[102] cũng như Giáo hội Chính thống giáo Đông phương[103] và Chính thống giáo Cổ Đông phương.[104][105] Trong phụng vụ của Giáo hội Chính thống giáo Coptic, ngài từng được gọi là "nổi bật" hoặc "người đứng đầu" trong số các Tông đồ – một danh hiệu cũng được dành cho Phaolô trong văn bản ("Phần bẻ bánh trong các dịp ăn chay và lễ kính hai Thánh Tông đồ Phêrô và Phaolô tại Giáo hội Chính thống giáo Coptic ở Alexandria"). Một số quan điểm, bao gồm cả quan điểm của các Giáo hội Chính thống giáo, cho rằng điều này không đồng nghĩa với việc các Tông đồ khác phải phục tùng mệnh lệnh của Phêrô.
Các nguồn tư liệu cho thấy, ban đầu, các thuật ngữ "episcopos" (giám mục) và "presbyteros" (trưởng lão) được sử dụng thay thế cho nhau;[106] giới học giả nhìn chung đều đồng thuận rằng, vào thời điểm chuyển giao giữa thế kỷ 1 và thế kỷ 2, các cộng đoàn địa phương được dẫn dắt bởi các giám mục và trưởng lão — những người có vai trò, nhiệm vụ chồng chéo hoặc không thể phân biệt được với nhau.[107] Các nhà sử học thuộc truyền thống Tin Lành cũng như các nhà sử học thế tục thường đồng ý rằng, có lẽ "không hề tồn tại một vị giám mục duy nhất nắm quyền lãnh đạo (giám mục quân chủ) tại Rome trước giữa thế kỷ 2... và thậm chí có thể là muộn hơn nữa".[108]
Kết nối với Rôma
[sửa | sửa mã nguồn]Đến Rôma
[sửa | sửa mã nguồn]Thế kỷ II, trong thư gửi giáo dân Rô-ma, Thánh Đionisio (166-174) Giám mục Corinto cũng quả quyết giáo đoàn này do hai tông đồ Phêrô và Phaolô thành lập.
Không có tài liệu chắc chắn cho chúng ta biết là Phêrô đến Rô-ma vào năm nào. Các sử gia thời thượng cổ chỉ tin rằng Phêrô đã điều khiển giáo đoàn Rô-ma trong 25 năm. Truyền thống cho rằng, ông làm Giám mục ở Rô-ma từ năm 42. Tuy nhiên điều chắc chắn là vào khoảng năm 44, Phêrô mới đi khỏi Jêsusalem và năm 49 lại có mặt tại đó để chủ tọa công đồng.
Có sử gia cho rằng sau khi đi khỏi Jêsusalem vào năm 44, Phêrô đã qua Antiokia, rồi sang Rôma, rửa tội cho nhiều người trong số ấy có gia đình ông bà Aquila và Priscilla, và tổ chức một giáo đoàn khá lớn ở đó, song chỉ được mấy năm, vị tông đồ phải rút khỏi do lệnh của hoàng đế Claudius trục xuất người Do Thái vào khoảng năm 46.
Nhưng lại có ý kiến khác cho rằng, thời ấy nhiều giáo đoàn chỉ được một vị tông đồ ở xa điều khiển. Nếu Phaolô, đang khi ở Epheso vẫn điều khiển hai giáo đoàn Philip và Thessalonic mà không cần đến vị nào khác, thì Phêrô, tuy còn ở trong xứ Judea ngài cũng có thể điều khiển giáo đoàn Antiokia, Bithynia và Rô-ma nữa. Theo ý kiến này thì Phêrô chỉ tới Rôma sau năm 50.
Cho tới thế kỷ XIV, không có ai đưa ra nghi vấn về việc Phê-rô đến Rô-ma và chịu tử đạo tại đây. Nhưng đầu thế kỷ XIV, Marsillius thành Padua làm có vấn cho Ludwig xứ Bavaria, hoàng đế La Mã Thần Thánh (1328 – 1346) đã cho ra đời cuốn Defensor Pacis (1324) phủ nhận quyền tối thượng của ngôi Giáo hoàng, trong đó ông đưa ra nghi vấn về việc Phê-rô đến Rô-ma. Nhà thần học Hans Kung cũng chỉ ra, không có bất cứ chỗ nào trong Tân Ước cho thấy Phêrô đến Rôma, hay nhắc tới một người kế vị nào của Phêrô tại đây. Ngoài ra, các nhà khảo cổ học cũng chưa thành công trong việc thẩm định hoàn toàn về lăng mộ của ông bên dưới nhà thờ Thánh Phêrô.[109]
Những căn cứ về việc Phê-rô tới thủ đô Rô-ma có thể kể đến là:
- Thư của Giáo hoàng Clêmentê gửi cho Côrintô (vào cuối thế kỷ thứ 1, khoảng năm 95-96), nói tới những cuộc bách hại vừa xảy đến cho các Kitô hữu vào thời Hoàng đế Nero, và Phêrô là một trong số các nạn nhân (1Cor 5,4-5).
- Thánh Inhaxiô Antiôkia khi viết thư cho giáo đoàn Rôma (khoảng năm 107), đã nói rằng "tôi không ra lệnh cho anh em như ông Phêrô và Phaolô đâu" (Ad Romanos 4,3); có vẻ như ngài đã thú nhận rằng uy tín của hai tông đồ rất đáng kể đối với cộng đoàn Rôma. Ở cuối thư thứ nhất của Phê-rô gửi Pontô, Galat, Cappadoxia, Asia, Bitinia, (5, 13), tác giả cho biết thư được viết từ Babilon, tức kinh thành giáo dân, thời đó quen ám chỉ Rô-ma.
- Từ hậu bán thế kỷ thứ 2, nhiều tác phẩm ra đời nói về các cuộc hành trình của Thánh Phêrô (Periodoi Petrou) cho tới lúc chịu tử đạo. Theo Giám mục Papias, Giám mục già ở Á Châu (Hiérapolis), người biết các môn đệ trực tiếp của các Tông Đồ thì phúc âm của Marcô là thủ bản ghi lại bài giảng của Thánh Phêrô ở Rô-ma. Bản văn của linh mục Gaius (thuộc hàng giáo sĩ Rôma) được viết khoảng năm 200 và được sử gia Eusêbiô trưng dẫn (Hist, Eccl, II, 25,7).
- Trong cuộc tranh luận với Prôclô, Gaius đã khẳng định hai ngôi mộ của Thánh Phêrô tại Vatican và của Thánh Phaolô trên con đường Ostiense. "Tôi sẽ chỉ cho quý vị đài tưởng niệm của hai tông đồ, hoặc quý vị tới đồi Vatican hay đi trên đường Ostia, quý vị sẽ thấy trước mắt đài kỷ niệm người thiết lập Giáo hội chúng ta". Ngoài ra còn có danh mục Libêriô (ghi danh sách các Giám mục Rôma tới thế kỷ IV) lập đời Giáo hoàng Libêriô (352-366); Thư của Thánh Irênê Giám mục Lyon khoảng 180 (Adv. Haereses); Thư của Giám mục Đề-ny (Dionisius) thành Côrintô đồng thời Thánh Irênê gửi giáo dân Rô-ma khoảng năm 170; Thư của Tertullianus (trong De Praescriptione Haeretic và Carminibus adv. Haereses). Origenes viết " Thánh Phê-rô đã đến Rô-ma và chịu đóng đinh lộn ngược". Khảo Cổ Học cho thấy từ thế kỷ III, các Kitô hữu ở Hang Toại Đạo đã kính nhớ hai Thánh Tông Đồ.
Tử vì đạo
[sửa | sửa mã nguồn]
Tháng 8 năm 64, Hoàng đế Nero bắt đầu bách hại giáo dân Ki-tô giáo.
Theo một truyền tụng, Phê-rô quyết định đi khỏi Rôma tìm nơi trú ẩn. Nhưng trên con đường Appia, gần cửa Capena, ông đã gặp Chúa Giêsu vác thập giá trên vai. Phêrô hỏi:
- "Lạy Chúa, Chúa đi đâu?" (Quo Vadis, Domine?).
Chúa Giê-su đáp:
- "Thầy vào thành Roma để chịu đóng đinh một lần nữa".
Phêrô hiểu ra ẩn ý của Chúa. Ông trở vào thành và chịu tử đạo. Sau này, người ta đã xây ngay chỗ Chúa hiện ra với Phê-rô một Thánh đường, mang danh hiệu Quo vadis, Domine? Vào thế kỷ thứ 3, nhiều tác phẩm ra đời (thí dụ: Công vụ của Phêrô), bổ túc thêm các chi tiết về việc Thánh Phêrô gặp Chúa Giê-su vác thập giá khi ông lánh nạn khỏi Rôma (cảnh Quo vadis), việc bị giam ở ngục Mamertina, và bị xử đóng đinh ngược đầu vào thập giá vì thấy không đáng được chết như Thầy mình.
Theo lưu truyền, Phê-rô bị bắt và bị tống giam. Tại nhà ngục, ông đã cảm hóa hai người lính canh ngục tên là Processus và Martinianus. Cả hai được rửa tội và tử đạo. Cuối cùng vì không có quốc tịch Rô-ma, ông bị kết án tử hình trên thập tự. Bị dẫn tới hý trường Caligula trên đồi Vatican, trông thấy thập giá, Phê-rô cảm thấy mình không xứng đáng được chết như thầy mình, đã yêu cầu được đóng đinh ngược.
Sau khi chết, thi hài của ông được chôn táng trong một nghĩa trang gần nơi xử, tức chỗ xây cất đền Thánh Phê-rô ngày nay trên đồi Vatican. Năm 258, chiếu chỉ Valerianus đe dọa các nghĩa trang Ki-tô giáo, người ta đem xác Thánh giấu trong hang tọa đạo trên đường Appia. Khi cơn bách hại lắng dịu, giáo dân lại đưa hài cốt trở về nơi cũ. Ngày 29 tháng 6 năm 258 ghi trong cuốn Martyrologium hieronimianm chưa chắc đã đúng.
Theo cuốn Liber Pontificialis thì chính Giáo hoàng Corneliô (vào khoảng năm 251, năm Decius chết và cuộc bách hại tạm ngưng) là người đã rước hài cốt thành Phê-rô và Phao-lô về đồi Vatican và đường Ostia. Nếu người ta nhận lưu truyền rằng hài cốt của hai Thánh tông đồ được cất giấu trong hang toại đạo suốt 40 năm, thì cuộc rước xương Thánh vào hầm mộ Thánh Sebastina phải từ thời Giáo hoàng Zepherinô (199 – 217) dưới triều Septimus-Severus. Năm 1915, khi người ta đào bới hang toại đạo, còn thấy trên tường 150 bút ký viết bằng chì những lời cầu khẩn của Phê-rô và Phao-lô.
Hầm mộ
[sửa | sửa mã nguồn]
Cho tới đầu thế kỷ XX đã không có vị Giáo hoàng nào nghĩ tới việc kiểm nghiệm khảo cổ mộ của Thánh Phêrô.
Năm 1939, các công nhân tu sửa khu hầm bên dưới nhà thờ Thánh Phêrô, nơi mai táng truyền thống của các Giáo hoàng, đã có một phát hiện đáng kinh ngạc. Ngay bên dưới sàn nhà, họ phát hiện ra một ngôi mộ La Mã cổ. Vài tháng sau khi được bầu làm Giáo hoàng, Giáo hoàng Piô XII đã ra lệnh bắt đầu các cuộc đào bới khảo cổ dưới nền đền thờ Thánh Phêrô, đặc biệt là dưới bàn thờ tuyên xưng đức tin, mà truyền thống liên tục từ xưa tới nay nói là có mộ của Thánh Phêrô.
Các cuộc đào bới do Linh mục Ludovico Kaas hướng dẫn, với sự trợ giúp của các nhà khảo cổ Enrico Josi, Linh mục Antonio Ferrua, Linh mục Engelbert Kirschbaum và kỹ sư kiến trúc Bruno Maria Apolloni Ghetti. Các cuộc đào bới đã kéo dài từ năm 1941 đến 1950 và đưa ra ánh sáng nghĩa trang thuộc thời tiền Kitô, cũng như nơi chôn cất Thánh Phêrô.
Ngay dưới bàn thờ, người ta tìm thấy một khu vực chôn cất lớn và một bức tường sơn đỏ. Trong một hốc tường là xương của một người đàn ông.
Năm 1967, Giáo hoàng Phaolô VI đã tuyên bố là Giáo hội đã tìm thấy hài cốt của Thánh Phêrô. Hiện nay Giáo hội công giáo mừng kính Thánh Phêrô vào ngày 29 tháng 6 cùng với Thánh Phaolô.
Những ngày lễ kính Thánh Phêrô
[sửa | sửa mã nguồn]
Vào thế kỷ IV, một lễ đã được cử hành để kính 2 Thánh Phêrô và Thánh Phaolô. Mặc dù ngày đó không cùng một ngày giữa Đông phương và Rôma. Danh mục tử đạo Syria vào thế kỷ IV, là một đoạn trích từ bản Hy Lạp liệt kê các Thánh được ghi sau Lễ Giáng Sinh: 26 tháng 12: Thánh Stêphanô; 27 tháng 12: Thánh Giacôbê và Gioan; 28 tháng 12: Thánh Phêrô và Phaolô.
Trong bài tán tụng Thánh Basiliô của Thánh Grêgôriô thành Nýt, cũng cho biết ngày lễ các tông đồ và Thánh Stêphanô tiếp ngay sau Lễ Sinh nhật. Người Armêni cũng cử hành lễ vào ngày 27 tháng 12; người theo phái Nestôriô thì vào ngày Thứ Năm thứ hai sau Lễ Hiển Linh. Rõ ràng ngày 28 (27) tháng 12 được dùng để kỷ niệm Thánh Phêrô và Phaolô đã được chọn tùy tiện, không có một truyền thống nào liên quan đến ngày tháng các Thánh qua đời.
Danh sách các lễ của các vị tử đạo trong thời kỳ của Philôcalô gắn lời ghi này vào thời điểm đó: "III. Kal. Jul. Pertri in Catacumbas et Pauli Ostience Tusco et Bassco Case". Quyển Martyrologium Hieronymianum" (Danh lục tử đạo của Giêrônimô) trong Berne M.S., có ghi đoạn sau đây ở ngày 29 tháng 6: Trên đường Aurêlia ở Rôma lễ sinh nhật của các Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô, Phêrô ở vatican và Phaolô ở đường Ostiensê, và cả hai đều ở hầm mộ, đã chịu khổ hình dười thời Nêrô, còn Basso và Tusco làm quan chấp chính[110][111]
Thời điểm năm 258 trong các lời ghi chứng tỏ rằng từ năm này, sự tưởng nhớ hai vị Tông đồ được cử hành vào ngày 29 tháng 6 trên đường Appia ad Catacumbas (gần nhà thờ Thánh Stêphanô ngoại thành) vì vào thời điểm này, hài cốt của các tông đồ đã được chuyển đến đó. Sau này, có lẽ khi xây dựng nhà thờ bên trên các ngôi mộ ở vatican và trên đường Ostiensê, các hài cốt đã được đưa về lại nơi an nghỉ trước đây; Hài cốt Thánh Phêrô về lại vương cung Thánh đường Vatican và hài cốt Thánh Phaolô về lại đường Ostiensê. Từ năm 248, lễ chính của họ là vào ngày 29 tháng 6; vào ngày này, lễ trọng thể được tổ chức trong ba nhà thờ nói trên từ thời xa xưa.[112]
Một lễ thứ ba kính hai Tông đồ diễn ra vào ngày 1 tháng 8 hay còn gọi là Lễ kính xiềng xích của Thánh Phêrô. Lễ này nguyên thủy là lễ cung hiến nhà thờ của vị Tông đồ, được dựng lên trên đồi Esquilin vào thế kỷ thứ IV. Nhà thờ được Giáo hoàng Xíttô III (432-440) xây cất lại, do gia đình hoàng đế Byzantine trả chi phí. Sự Thánh hiến trọng thể diễn ra vào ngày 1 tháng 8, và đây là ngày cung hiến nhà thờ trước đây. Có lẽ ngày này đã được chọn để thay thế các lễ hội ngoại giáo diễn ra vào ngày 1 tháng 8. Bên trong nhà thờ này vẫn lưu giữ các xiềng xích được cho là của Thánh Phêrô.[113]
Sự tưởng nhớ cả hai Thánh tông đồ Phêrô và Phaolô sau này cũng được kết hợp với hai nơi ở Rôma: Via Sacra, nơi mà người ta nói nhà phù thủy Simon đã bị ngã xuống khi Phêrô cầu nguyện và nhà tù Tullianum hay Carcer Mamertinus, nơi các tông đồ được cho là đã bị giam giữ cho đến khi hành hình. Ở cả hai nơi này, điện thờ các tông đồ đã được dựng lên và điện thờ của nhà tù Mamertinô vẫn còn trong hình dạng hầu như nguyên thủy của nó từ thời đại Rôma ban đầu.
Hiện này Giáo hội công giáo mừng kính Thánh Phêrô vào ngày 29 tháng 6 cùng với Thánh Phaolô.[114]
Những hình ảnh thể hiện Thánh Phêrô
[sửa | sửa mã nguồn]
Vật hiện còn lưu giữ được xưa nhất là tấm lắc bằng đồng thiếc có hình đầu của các tông đồ. Chúng có niên đại từ cuối thế kỷ II hoặc đầu thế kỷ III và hiện được bảo quản trong Viện bảo tàng Kitô giáo ở Thư viện Vatican. Trong đó Phêrô được thể hiện là một người có cái đầu mạnh mẽ, hơi tròn, xương hàm nhô lên, một cái trán hớt ra phía sau, to, tóc và râu xoắn. Diện mạo cá biệt đến nỗi phần nào thể hiện bản chất của một chân dung. Kiểu mẫu này cũng được tìm thấy trong hai hình ảnh thể hiện Thánh Phêrô trong một căn phòng của hầm mộ Phêrô và Marcellinô có từ hạ bán thế kỷ III.[115]
Trong các bức họa của các hầm mộ, Thánh Phêrô và Thánh Phaolô thường xuất hiện như là đấng cầu bầu và các vị bào chữa cho những người chết trong các hình ảnh thể hiện sự Phán xét chúng và như đang đưa một người đang cầu nguyện (gương mặt cầu nguyện thể hiện người chết) vào Thiên Đàng.
Trong các bức họa của các hầm mộ và được khắc trên các quan tài bằng đá, hình ảnh thể hiện Chúa Giêsu ở giữa các tông đồ của người thì Phêrô và Phaolô luôn chiếm vị trí danh dự bên phải và bên trái đấng cứu độ. Trong các hình tranh trí ghép mảnh của các Vương cung Thánh đường Rôma, có từ thế kỷ IV đến thế kỷ IX, Đức Kitô xuất hiện như là gương mặt trung tâm cùng với Thánh Phêrô và Thánh Phaolô bên phải và bên trái, ngoài ra các vị này được đặc biệt tôn kính trong các nhà thờ riêng biệt.
Trên các quan tài bằng đá và trên các tượng đài tưởng niệm khác, xuất hiện các cảnh cuộc đời của Thánh Phêrô như cảnh: ông đi trên hồ Gennêsarét khi Chúa Kitô gọi ông đến từ chiếc thuyền; lời tiên tri về sự "chối thầy" của ông; sự rửa chân; sự cho Tabitha sống lại; sự bắt Phê-rô và dẫn ông đến nơi hành hình. Trên hai tấm kính mạ vàng, ông được thể hiện như ông Mô-sê đang dùng gậy đánh vào tảng đá cho nước vọt ra: tên Phê-rô bên dưới cảnh này chứng tỏ ông được xem là người dẫn dắt dân của Thiên chúa trong Tân ước.
Đặc biệt thường xuyên trong thời kỳ giữa thế kỷ IV và VI là cảnh trao Lề luật cho Phêrô, là cảnh xuất hiện trên nhiều tượng đài khác nhau. Đức Ky-tô đưa cho Thánh Phê-rô một cuộn giấy được gấp lại hoặc mở ra, trên đó thường là câu ghi Lex Domini (Luật của Chúa) hoặc Dominus legem dat (chúa ban lề luật). Trong lăng của Constantina ở Rô-ma 9S. Constanza, ở Via Nomentana, cảnh này được xem như là một cảnh sánh đôi với việc trao lề luật cho Môsê. trong các hình ảnh thể hiện trên các quân tài bằng đá thể kỷ V, chúa trao cho Phêrô (thay vì cuộn giấy) những chiếc chìa khóa. Trong các bản khắc của thế kỷ IV, Phêrô thường cầm một cây sậy.
Xem thêm
[sửa | sửa mã nguồn]Chú thích
[sửa | sửa mã nguồn]- ↑ tiếng Hebrew: שמעון בר יונה, Latinh hoá: Šīmʿōn bar Yōnā; tiếng Syriac cổ điển: ܫܸܡܥܘܿܢ ܟܹ݁ܐܦ݂ܵܐ, Latinh hoá: Šemʿōn Kēp̄ā; tiếng Ả Rập: سِمعَان بُطرُس, Latinh hoá: Simʿān Buṭrus; tiếng Hy Lạp cổ: Πέτρος, Latinh hoá: Petros, n.đ. 'Đá'; tiếng Copt: Ⲡⲉⲧⲣⲟⲥ, Latinh hoá: Petros; tiếng Latinh: Petrus; tiếng Ả Rập: شمعون الصفا, Latinh hoá: Shamʿūn aṣ-Ṣafā, n.đ. 'Simon the Pure'[5]
- ↑ Những tên khác là Simeon hoặc Simon.[6]
- ↑ Tường thuật về việc Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ đầu tiên có sự khác biệt giữa bốn sách Phúc Âm. Trong Máccô 1:16,[28] "Simôn và em trai là Anrê" là những người đầu tiên được kêu gọi; trong Mátthêu 4:18,[29]“Si-môn, người được gọi là Phêrô, và Anrê, anh trai của ông” cũng là những người đầu tiên được gọi; và trong Luca 5:1–11,[30] Simon Peter, cùng với "James và John, con trai của Zebeđê, là những người cộng sự của Simon", là những người đầu tiên được gọi. Câu chuyện trong Phúc Âm Giăng khác với câu chuyện trong ba Phúc Âm Nhất Lãm; trong Giăng 1:40–42,[31] Anrê là môn đồ đầu tiên, sau đó ông đưa Simôn đến với Chúa Giê-su; Ngài đặt tên cho ông là Kêpha (được dịch là Phêrô).
- ↑ Tên của cha ông ấy được đặt là "Jonah"[34][35] mặc dù một số bản thảo của John ghi tên cha anh là "John".
- ↑ Xem Sự kiện tại Antiôkia; xem thêm phần dưới đây với tiêu đề "Trên đường đến Rôma: Antiôkia và Côrintô".
- ↑ Phêrô trình bày một bài giảng ngoài trời trong Lễ Ngũ tuần. Theo cùng một cuốn sách, Phêrô đã dẫn đầu trong việc lựa chọn người thay thế Judas Iscariot.[80] Sau sự bổ nhiệm này, chúng ta thấy Phêrô đặt ra các điều kiện để trở thành sứ đồ như những người đã dành thời gian với Chúa Giê-su.[81] Quyền lực của Phêrô thể hiện vai trò của ông như một người phân xử trong các cuộc xung đột và các vấn đề đạo đức. Ông đảm nhận vai trò này trong trường hợp của Ananias và Sapphira và buộc họ phải chịu trách nhiệm về việc nói dối. Phêrô đưa ra phán quyết đối với họ và từng người bị đánh chết vì vi phạm.[82] Vai trò của Phêrô không phải lúc nào cũng là lãnh đạo, vì ông cũng sử dụng tài năng của mình để chăm sóc những người gặp khó khăn. Chúng ta thấy Phêrô thiết lập những xu hướng này bằng cách tiếp cận những người bệnh tật và què quặt. Phêrô chữa lành hai người không thể đi lại hoặc bị liệt[83][84] cũng như làm cho Tabitha sống lại từ cõi chết.[84] Mặc dù những hành động này là phép lạ của lòng trắc ẩn nhưng chúng cũng đồng thời làm cho Tabitha sống lại từ cõi chết.[84] đã góp phần vào số lượng tín đồ trong Giáo hội sơ khai.
- ↑ At the Council of Jerusalem (k. 50), trong Giáo hội sơ khai, Phao-lô và các vị lãnh đạo của Giáo hội Giê-ru-sa-lem đã gặp nhau và quyết định đón nhận những người cải đạo là người ngoại đạo. Sách Công vụ các Tông đồ mô tả Phi-e-rơ và các vị lãnh đạo khác đã thành công trong việc chống lại những người Pharisi Cơ đốc giáo, những người khăng khăng đòi hỏi phép cắt bì.[93]
Tham khảo
[sửa | sửa mã nguồn]- 1 2 3 4 5 6 "Catholic Encyclopedia - St. Peter, Prince of the Apostles". newadvent.org.
- ↑ The Papacy - An Encyclopedia. Quyển 1. Routledge. 2002. tr. 947. ISBN 0415922283.
- ↑ McDowell, Sean (2016). The Fate of the Apostles- Examining the Martyrdom Accounts of the Closest Followers of Jesus. Routledge. tr. 57. ISBN 978-1-317-03190-1.
- ↑ Siecienski, A. Edward (2017). The Papacy and the Orthodox - Sources and History of a Debate. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-065092-6.
Giới học giả phần lớn đã chấp nhận việc Phêrô qua đời tại Rôma "như một sự kiện tương đối chắc chắn, dù không phải là chắc chắn tuyệt đối". Trong khi đó, một số ít người sẵn sàng khẳng định đây là một kết luận dứt khoát.
- ↑ Richard T. Antoun; Donald Quataert (1991). "The Alawis of Syria Religious Ideology and Organization". Syria - Society, Culture, and Polity. Suny Series in Judaica. SUNY Press. tr. 53. ISBN 978-0-7914-0713-4 – qua books.google.com.
- ↑ "# SEARCH Matthew 16". www.drbo.org. Truy cập ngày 1 tháng 4 năm 2026.
- ↑ Matthew 16:18
- ↑ Dale Martin 2009 (lecture). "24. Apocalyptic and Accommodation" trên YouTube. Yale University. Accessed 22 July 2013. Lecture 24 (transcript) Lưu trữ ngày 6 tháng 9 năm 2014 tại Wayback Machine.
- ↑ Chapman, Henry Palmer (1913). . Trong Herbermann, Charles (biên tập). Catholic Encyclopedia. New York: Robert Appleton Company.
- ↑ Thomas Patrick Halton, On Illustrious Men Lưu trữ ngày 22 tháng 12 năm 2022 tại Wayback Machine, v. 100, CUA Press, 1999, pp. 5–7 ISBN 0-8132-0100-4.
- ↑ "The Early Church Fathers" Lưu trữ ngày 9 tháng 11 năm 2017 tại Wayback Machine, Chapter 1, New Advent.
- ↑ Kelly, J. N. D. (2010). A Dictionary of Popes (bằng tiếng Anh). Oxford University Press. tr. 6–7. ISBN 978-0-19-282085-3.
- ↑ Levillain, Philippe; O'Malley, John W. (2002). The Papacy: An Encyclopedia (bằng tiếng Anh). Quyển II. Routledge. tr. 1156–1160. ISBN 978-0-415-92230-2.
- ↑ Catholic University of America (2003). New Catholic Encyclopedia: Pau-Red (bằng tiếng Anh). Thomson/Gale. tr. 173–176. ISBN 978-0-7876-4015-6.
- ↑ Acts 15:14, 2 Peter 1:1
- ↑ Wilson, Robert McLachlan (1979). Text and Interpretation - Studies in the New Testament Presented to Matthew Black. Cambridge University Press. ISBN 978-0-521-22021-7.
- ↑ John Hayes, Who was who in the Bible, Thomas Nelson, 1999, p. 70: "CEPHAS [SEE fuhs]".
- ↑ "Strong's Greek: 2786. Κηφᾶς (Képhas) – "a rock", Cephas, a name given to the apostle Peter". biblehub.com.
- ↑ "Strong's Greek: 4073. πέτρα (petra) – a (large mass of) rock". biblehub.com. Truy cập ngày 1 tháng 9 năm 2021.
- ↑ "Strong's Greek: 4074. Πέτρος (Petros) – "a stone" or "a boulder", Peter, one of the twelve apostles". biblehub.com.
- ↑ Siecienski, A. Edward (ngày 12 tháng 1 năm 2017). The Papacy and the Orthodox - Sources and History of a Debate. Oxford University Press. ISBN 978-0-19-065092-6 – qua Google Books.
- ↑ Jastrow, Marcus (ngày 20 tháng 2 năm 1903). "A dictionary of the Targumim, the Talmud Babli, and Yerushalmi, and the Midrashic literature". London: Luzac – qua Internet Archive.
- ↑ "A Dictionary of the Dialects of Vernacular Syriac - As Spoken by the Eastern Syrians of Kurdistan ..." Clarendon. ngày 20 tháng 2 năm 1901 – qua Internet Archive.
- ↑ Rudolf Pesch: Simon Petrus. Geschichte und geschichtliche Bedeutung des ersten Jüngers Jesu Christi. Hiersemann, Stuttgart 1980, trang 25–34.
- ↑ Gibson, Jack J. (2013). Peter Between Jerusalem and Antioch - Peter, James, and the Gentiles (bằng tiếng Anh). Mohr Siebeck. tr. 26. ISBN 978-3-16-151889-8. Truy cập ngày 8 tháng 3 năm 2022.
- ↑ John P. Meier - Petrine Ministry in the New Testament and in the Early Patristic Traditions. In: James F. Puglisi et al.: How Can the Petrine Ministry be a Service to the Unity of the Universal Church? Cambridge 2010, S. 17 f.
- ↑ The Teaching of Simon Cephas in the City of Rome; The Diatessaron Lưu trữ ngày 1 tháng 12 năm 2017 tại Wayback Machine
- ↑ Mark 1:16
- ↑ Matthew 4:18
- ↑ Luke 5:1–11
- ↑ John 1:40–42
- 1 2 "Peter, St" by F. L. Cross, The Oxford Dictionary of the Christian Church, Oxford University Press, 2005.
- ↑ "The Church of the House of Peter". mfa.gov.il. Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 5 năm 2009.
- 1 2 John 1:42
- ↑ Matthew 16:17
- ↑ Matthew 8:14–17
- ↑ Mark 1:29–31
- ↑ Luke 4:38
- ↑ Stromata, III, vi, ed Dindorf, II, 276
- ↑ Collins, Raymond F. (ngày 22 tháng 11 năm 2013). Accompanied by a Believing Wife - Ministry and Celibacy in the Earliest Christian Communities. Liturgical Press. ISBN 978-0-8146-8238-8 – qua Google Books.
- ↑ Matthew 4:18–19
- ↑ Mark 1:16–17
- ↑ Matthew 16:13–20
- ↑ Mark 8:27–30
- ↑ Luke 9:18–21
- ↑ Luke 5:3
- ↑ Luke 5:4–11
- ↑ John 1:35–42
- ↑ Matthew 14:28–31
- ↑ John 13:2–11
- ↑ Matthew 26:51
- ↑ Mark 14:47
- ↑ Luke 22:50
- ↑ John 18:10
- ↑ Luke 22:49–51
- ↑ Sách Công vụ Tông đồ 4:7–22
- ↑ Sách Công vụ Tông đồ 5:18–42
- ↑ Sách Công vụ Tông đồ 9:32–10:2
- ↑ Sách Công vụ Tông đồ 10
- ↑ Acts of the Apostles 8:14
- ↑ Galatians 1:18
- ↑ Galatians 2:7–9
- ↑ Galatians 2:11
- ↑ Công vụ các Sứ đồ 12:1–18
- ↑ Luca 4:38-40
- ↑ Stromata, quyển 7, chương 11. Alexander Roberts và James Donaldson (biên tập), Ante-Nicene Christian Library - Translations of the Writings of the Fathers down to AD 325 (Thư viện Kitô giáo thời tiền-Nicaea - Các bản dịch tác phẩm của các Giáo phụ đến năm 325 SCN), tập 12, tr. 451
- ↑ "What Was Up with St. Peter's Wife? (Chuyện gì đã xảy ra với vợ của Thánh Phêrô?)". Catholic Answers.
- 1 2 3 Pagels 2005, tr. 45.
- 1 2 Lüdemann & Özen 1996, tr. 116.
- 1 2 Pagels 2005, tr. 45–46.
- 1 2 3 Lüdemann & Özen 1996, tr. 116–117.
- ↑ Pagels 2005, tr. 43.
- ↑ Matt. 10:2–4, Mk. 3:16–19, Lk. 6:14–16
- ↑ Acts 1:13
- ↑ Mark 5:37
- ↑ Matthew 17:1
- ↑ Matthew 26:37
- ↑ Matthew 15:15; 19:27; Luke 12:41; John 6:67–68
- ↑ Vidmar, John (2005). The Catholic Church through the ages - a history. Paulist Press. tr. 39–40. ISBN 978-0-8091-4234-7. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ↑ Acts 1:15
- ↑ Acts 1 (NRSV)
- ↑ Acts 5 (NRSV)
- ↑ Acts 3 (NRSV)
- 1 2 3 Acts 9 (NRSV)
- ↑ May, Herbert G. và Bruce M. Metzger, The New Oxford Annotated Bible with the Apocrypha, 1977.
- ↑ 1Cor 15
- ↑ 1Cor 15:3–7
- ↑ Xem Matthew 28:8–10, John 20:16 và Luke 24:13–16.
- ↑ Jn. 20:1–9
- ↑ Lk. 24:1–12
- ↑ Galatians 2:9
- ↑ Myllykoski, Matti (2006). "James the Just in History and Tradition - Perspectives of Past and Present Scholarship (Part I)". Currents in Research. 5. Helsinki Collegium for Advanced Studies, Finland: 73–122. doi:10.1177/1476993X06068700. S2CID 162513014.
Giacôbê Công chính, em trai của Chúa Giê-su, được biết đến qua Tân Ước với tư cách là vị tông đồ đứng đầu nhóm tín hữu Cơ Đốc tuân giữ Luật pháp (Torah).
- ↑ Harris, Stephen L. (2010). Understanding the Bible (ấn bản thứ 8). New York: McGraw-Hill. tr. 420. ISBN 978-0-07-340744-9.
Những người Pha-ri-si theo đạo Cơ đốc yêu cầu phải giữ lại toàn bộ Kinh Torah, nhưng Phi-e-rơ được cho là phản đối điều này ([Công vụ] 15:10) và ... khiến những người Do Thái im lặng.
- ↑ Bockmuehl 2010, tr. 52.
- ↑ "Church History Book II, Chapter I, quoting Clement of Alexandria's Sixth book of Hypotyposes". Newadvent.org. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ↑ Harrington, Daniel J., "Peter the Rock" (Phêrô - Tảng Đá), tạp chí America, 18–25 tháng 8 năm 2008, truy cập ngày 9 tháng 10 năm 2009, tr. 30.
- ↑ "What did Jesus mean when he said, "Upon this rock I will build my church"?". bible.org. Truy cập ngày 10 tháng 2 năm 2015.
- ↑ Rienecker, Fritz; Rogers, Cleon (1976). Linguistic key to the Greek New Testament. Regency Reference Library (Zondervan Publishing House). tr. 49. ISBN 978-0-310-32050-0.
- ↑ Jerome, Commentary on Matthew (Chú giải Tin Mừng Ma-thi-ơ), Washington D.C.: The Catholic University of America Press, tr. 192, chú thích 21.
- ↑ Allen, J. H., Outline of Christian History A.D. 50-1880 (Đề cương Lịch sử Cơ Đốc giáo 50–1880 SCN), tr. 41.
- ↑ Augustine, Exposition on Psalm 61 (Bài giảng về Thi Thiên 61), được trích dẫn trong Expositions on the Psalms (Các bài giảng về các Thi Thiên), New Advent LLC.
- ↑ "Sermon by Leo the Great (440–461)". ccel.org. ngày 13 tháng 7 năm 2005. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Archbishop Stylianos of Australia". Bản gốc lưu trữ ngày 7 tháng 11 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Patriarch H.H. Ignatius Zakka I Iwas". Syrianchurch.org. Bản gốc lưu trữ ngày 11 tháng 10 năm 2010. Truy cập ngày 12 tháng 9 năm 2010.
- ↑ "Syriac Orthodox Church in Canada - Identity of the Church". syrianorthodoxchurch.com.
- ↑ Oxford Dictionary of the Christian Church (Từ điển Oxford về Giáo hội Cơ Đốc), ấn bản năm 1997, sửa đổi năm 2005, tr. 211.
- ↑ Cambridge History of Christianity (Lịch sử Cơ Đốc giáo Cambridge), tập 1, 2006.
- ↑ Cambridge History of Christianity (Lịch sử Cơ Đốc giáo Cambridge), tập 1, 2006, tr. 418.
- ↑ Lỗi chú thích: Thẻ
<ref>không hợp lệ; không có nội dung trong ref có tên "kungsh" - ↑ "Nguyên văn: "Romae via Aurelia natale Sanctorum Apostolorum Petri et Pauli, Petri in Vaticano, Pauli in via Ostiensi, utrumque in catumbas, passisub Norone, Basso et Tusco consulibus"".
{{Chú thích web}}:|url=trống hay bị thiếu (trợ giúp) - ↑ Berne M.S., Nhà xuất bản de Rossi – Duchesne, 84.
- ↑ Duchesne, "Origines du culte chr é tien", ấn bản lần 5, Paris, 1909, 283tt; Urbain: "Ein matyrologium der christl 169tt; Kellner, "Heortologie", án bản lần ba, Freiburg, 1911, 210tt
- ↑ "Duchesne, 286tt; Kellner, 216tt".
{{Chú thích web}}:|url=trống hay bị thiếu (trợ giúp) - ↑ "Ngày 29 tháng sáu: Thánh Phêrô và Thánh Phaolô tông đồ". Sách Lễ Rôma. Bản gốc lưu trữ ngày 16 tháng 9 năm 2013. Truy cập ngày 18 tháng 8 năm 2013.
- ↑ Wilpert, "Die Malerein dẻ Katakomben Rom", bản khắc kẽm 94 và 96
Tham khảo thư loại
[sửa | sửa mã nguồn]- Bockmuehl, Markus N. A. (2010). The Remembered Peter - In Ancient Reception and Modern Debate. Mohr Siebeck.
- Dunn, James D. G. (2001). "Has the Canon a Continuing Function". Trong Lee Martin McDonald; James A. Sanders (biên tập). The Canon Debate. Baker. ISBN 978-1-4412-4163-4.
- Hitchcock, Susan Tyler; Tutu, Mpho; Esposito, John L. (2004). Geography of Religion - Where God Lives, where Pilgrims Walk. National Geographic. ISBN 978-0-7922-7317-2.
- Jobes, Karen (2005). Baker Exegetical Commentary on the New Testament: 1 Peter. Baker Publishing Group.
- Kruger, Michael J. (1999). "The Authenticity of 2 Peter". Journal of Evangelical Society. 42 (4): 645–671.
- Lüdemann, Gerd; Özen, Alf (1996). De opstanding van Jezus - Een historische benadering (Was mit Jesus wirklich geschah. Die Auferstehung historisch betrachtet / The Resurrection of Christ: A Historical Inquiry). Averbode. ISBN 978-9-02594-665-4.
- Pagels, Elaine (2005). De Gnostische Evangelien (The Gnostic Gospels). Servire.
Liên kết ngoài
[sửa | sửa mã nguồn]- Church Fathers on the Peter's Primacy Lưu trữ ngày 11 tháng 7 năm 2012 tại Wayback Machine
- Church Fathers on Peter's Successors Lưu trữ ngày 26 tháng 6 năm 2018 tại Wayback Machine
- The Life & Miracles of St. Peter, Prince of the Apostles
- Etymology of Peter (archived 17 June 2005)
- The Jewish St Peter (archived 28 September 2007)
- Jewish Encyclopedia: Simon Cephas
- Lake, Kirsopp (1911). . Encyclopædia Britannica. Quyển 21 (ấn bản thứ 11). tr. 285–288.
- Veneration of the Precious Chains of the Holy and All-Glorious Apostle Peter Orthodox icon and synaxarion
- The Holy Glorious and All-Praised Leader of the Apostles, Peter icon and synaxarion
- The Holy Glorious and All-Praised Leader of the Apostles, Peter & Paul sermon of Saint Augustine, Bishop of Hippo
- Catholic response to Protestant claims that Peter never visited Rome (archived 13 October 2007)
- stpetersbasilica.org Books on St. Peter's Basilica in Rome